Từ trước Tết đến giờ tôi chẳng viết được chút nào, dù biết mình cần duy trì thói quen viết cho đều đặn. Cũng không phải là tôi bận tới mức không có lúc nào được ngồi yên, vẫn có những khoảng thời gian như chiều 29 Tết khi mọi thứ đã sẵn sàng cho mấy ngày Tết, hay chiều mùng 3 khi cỗ bàn đã kết thúc, khách khứa đã vãn và Tết đã xong về mặt thủ tục. Nhưng vào những lúc như thế, đầu óc tôi lại cứ trơ ra và thế là tôi chỉ ngồi im, bần thần khi đột nhiên chẳng còn việc gì để bận.
Chưa từng trải qua điều gì tương tự kể từ khi bắt đầu viết, tôi thắc mắc thế này là sao, khi tôi cứ ngồi đó, còn mọi suy nghĩ cứ như bóng chim vụt qua mặt nước, nhanh tới mức chẳng để lại dù chỉ là một gợn sóng. Cái cảm giác chúng ở ngay đó nhưng không thể chạm tới khiến tôi bồn chồn, nhấp nhổm không yên. Sự tập trung quả là xa xỉ.
Thế là, tôi đã thử tìm cách lý giải cho trải nghiệm của chính mình. Điều đầu tiên có vẻ có liên quan mà tôi tìm được là Working Memory Overload (Quá tải bộ nhớ làm việc). Hiểu nôm na thì bộ nhớ làm việc là công cụ để não bộ con người xử lý thông tin và nó có dung lượng nhất định. Chỉ cần phải đối phó với hơn ba yếu tố thông tin một lúc là nó sẽ bị quá tải. Nếu vậy thì bộ nhớ làm việc của tôi trong mấy ngày Tết sẽ chẳng khác nào một cái bàn ngổn ngang giấy tờ. Chỗ này là soạn quà Tết để về quê, chỗ kia là mâm cỗ cúng Giao thừa, chỗ kia nữa là nấu nướng, cỗ bàn cho ba ngày Tết. Tôi biết viết lách vẫn nằm đâu đó trong đấy nhưng những ý tưởng về nó tản mát và lẫn lộn tới mức không thể tập hợp lại được. Tôi không thể ngồi đè lên mớ giấy tờ hỗn độn ấy để viết. Tôi cần có một cái bàn ngăn nắp một chút, có khoảng trống nhất định để trải phẳng các suy nghĩ, xem xét rồi sắp chúng lại sao cho thẳng thớm, có lớp lang trên mặt giấy. Ngày Tết với những mối lo lặt vặt cứ luôn xà quần qua lại không cho phép tôi làm như vậy.
Ngoài Working Memory Overload, một khái niệm khác cũng lý giải được phần nào tình trạng tắc tị của tôi là Attention Residue (Tàn dư của sự chú ý), một trạng thái mà hoạt động nhận thức của một người vẫn còn lưu lại với nhiệm vụ A kể cả khi người đó đã chấm dứt nhiệm vụ ấy và chuyển sang thực hiện nhiệm vụ B (Sophie Leroy, 2009). Có lẽ cái cảm giác bần thần sau khi tất bật với Tết chính là não bộ của tôi vẫn đang nấn ná trong dư âm của dọn nhà, cỗ bàn và khách khứa. Sẽ cần một thời gian để những dư âm đó tan đi và đầu óc tôi thôi lửng lơ rồi quay về với trạng thái tư duy bình thường.
Những buổi sáng 9-5
Thực ra, mấy ngày Tết vừa rồi cũng không phải lần đầu tôi có cái cảm giác vừa-muốn-làm-vừa-không-thể-làm đó. Nói ra thì xấu hổ, trước đây khi còn đi làm, tôi cũng đã trải qua một trạng thái từa tựa như vậy. Ấy là những lúc dự án thì chất chồng, thời hạn thì sát nút nhưng tôi vẫn không thể ép bản thân bắt tay vào làm cho nghiêm túc. Thay vào đó, tôi lại kiếm cớ chat chit chuyện phiếm hay đọc cái này cái kia để trốn tránh. Dù trong lòng vẫn lo lắng cho chỗ công việc còn tồn đọng nhưng nỗi lo lắng ấy vẫn không thể thắng nổi cảm giác vui vẻ, nhẹ nhõm nhất thời mà mấy trò chơi bời vẩn vơ của tôi mang lại. Lại vẫn là chiếc bàn ngổn ngang giấy tờ và vẫn là tôi không thể bắt đầu làm những việc cần làm như trong câu chuyện viết lách ngày Tết, nhưng cảm giác thì rất khác.
Hẳn ai cũng biết trải nghiệm của tôi trong khoảng thời gian đi làm đó được gọi là sự “trì hoãn” (procrastination), thứ mà, theo rất nhiều quan điểm hiện nay, là biểu hiện của thiếu tự kỷ luật và là chướng ngại vật ngáng đường chúng ta đến với thành công. Nhưng cái mà tôi thắc mắc nhiều hơn cả không phải là bản thân sự trì hoãn, mà là bối cảnh sự trì hoãn xuất hiện. Vì sao tôi có thể cực kỳ kỷ luật trong việc này mà lại không thể làm tương tự với việc khác? Điều gì ở công việc đó hay hoàn cảnh mà công việc đó diễn ra đã biến tôi thành một con đà điểu như vậy?
Mãi cho đến khi tôi đọc được một nghiên cứu năm 2020 của Bytamar, Saed và Khakpoor, một đoạn trong đó mới giúp tôi hiểu được chuyện gì đã xảy với mình khi ấy. Xin được trích nguyên văn dưới đây:
“Procrastinators perceive themselves as someone who cannot change the situation effectively or regulate their negative emotions; the belief that makes them less likely to concentrate on the task at hand or tolerate unpleasant emotions to achieve their goals. It seems that this perception of self, along with the priority of short-term mood repair (Sirois and Pychyl, 2013), develops and perpetuates the procrastination behavior.” (Tạm dịch: Người trì hoãn nhìn nhận bản thân như một người không thể thay đổi tình huống một cách hiệu quả hoặc không thể điều tiết những cảm xúc tiêu cực của mình. Chính niềm tin này khiến họ ít có khả năng tập trung vào nhiệm vụ trước mắt hoặc chịu đựng những cảm xúc khó chịu để đạt được mục tiêu. Có vẻ như cách tự nhìn nhận ấy, cùng với xu hướng ưu tiên việc xoa dịu cảm xúc trong ngắn hạn (Sirois & Pychyl, 2013), đã hình thành và duy trì hành vi trì hoãn theo thời gian.)
Nội dung này đã soi tỏ cho sự trì hoãn mà tôi đã mắc phải. Nó luôn xảy ra cùng với sự chán nản, phẫn nộ khi biết dù mình có làm nhiều hay nhanh như thế nào thì cơn lũ công việc cũng sẽ không bao giờ dừng lại. Hay nói cách khác, dù tôi có bỏ ra bao nhiêu công sức thì tình hình cũng chẳng thể thay đổi. Tôi chỉ là một mắt xích nhỏ trong một cỗ máy khổng lồ, không thể vận hành theo ý mình. Lần đầu tiên tôi nhìn nhận khác đi về sự trì hoãn của bản thân, không còn như một nỗi xấu hổ vì thiếu kỷ luật, mà là phản ứng tự nhiên của não bộ trước những hoàn cảnh mà nó đánh giá là bế tắc hay vô vọng. Có lẽ trước khi chính tôi nhận thức được rõ ràng về mức độ phù hợp của mình với công việc, thì cơ thể đã cố gắng gửi đi một lời cảnh báo rồi.
Khi không thể chính là không thể
Hai câu chuyện của tôi, xảy ra vào những khoảng thời gian khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau, và cũng cho tôi thấy những khía cạnh khác nhau về con người mình. Ở câu chuyện tắc chữ ngày Tết là sự hữu hạn của “tài nguyên” nhận thức. Bộ não của tôi khi ấy đơn giản là không còn chỗ trống để xử lý một tác vụ phức tạp và vi tế như viết lách. Còn trong câu chuyện trì hoãn, lẩn tránh khi tôi còn làm công ăn lương là quyền được cải tạo hoàn cảnh. Một cách rất bản năng, con người sẽ chẳng muốn dồn sức cho những thứ không có hi vọng gì; bộ não của tôi lúc đó cũng nghĩ như thế và đã chọn ngồi thuỗn ra thay vì làm việc.
Mặc dù vậy, cũng không khó để nhận ra rằng cả hai câu chuyện đều gợi lên một vấn đề chung: giới hạn tự nhiên – tiếng nói nguyên thuỷ từ cơ thể của chính tôi.
Gần đây tôi có xem một bộ phim Trung Quốc đề tài phá án. Trong phim có một vụ án mà hầu hết những manh mối liên quan đều đã đứt đoạn. Vật chứng duy nhất còn có giá trị điều tra là một chiếc điều khiển từ xa. Ngặt một nỗi, nó đã ở ngoài trời quá lâu, trải qua đủ kiểu thời tiết cực đoan trước khi được cảnh sát tìm ra, nên việc tìm kiếm dấu vết sinh học của hung thủ để lại gần như bất khả thi. Dẫu vậy, cả đội điều tra vẫn đặt hi vọng rất lớn, vì mọi người đã bỏ ra quá nhiều công sức mới tìm được chút manh mối đó, và vì nếu không bám vào chiếc điều khiển ấy, vụ án sẽ bế tắc hoàn toàn. Dưới áp lực kỳ vọng của đồng đội, đội kỹ thuật ra sức làm việc. Nhiều công sức hơn nữa lại đổ vào món vật chứng, thêm nhiều ngày trôi qua nhưng chuyên án vẫn dậm chân tại chỗ. Nhìn nỗ lực của anh em bỏ ra vô ích, giám đốc trung tâm giám định mới nói thế này: “Những chuyện mà cô nói (ý là bản chất khó khăn của vụ án) mọi người đều biết hết, nhưng cô không làm được tức là không làm được.” Đến lúc này, đội kỹ thuật mới chấp nhận sự thật và báo cáo lên tổng chỉ huy để đổi phương hướng điều tra. Kết quả là không lâu sau khi áp dụng biện pháp khác, vụ án đã được phá.
Câu nói “không làm được tức là không làm được” của vị giám đốc kia đã làm tôi suy nghĩ mãi. Có những giới hạn mặc nhiên tồn tại, khiến ta càng cố gắng thì chỉ càng kiệt sức mà không có tác dụng gì. Một điều đơn giản như vậy nhưng chẳng mấy khi ta hiểu và chấp nhận được nếu trước đó chưa trầy vi tróc vẩy, thậm chí là húc đầu vào đá. Cũng như đội điều tra dồn sức tìm dấu vết sinh học trên một vật chứng đã trải qua xói mòn tự nhiên, nhiều khi chúng ta cứ mãi luẩn quẩn với những thứ vốn chẳng còn hi vọng, vì nỗi sợ nếu phải từ bỏ chúng, ta sẽ chẳng còn lại gì. Nhưng như người ta vẫn nói: “Khi cánh cửa này đóng lại, sẽ luôn có một cánh cửa khác mở ra.” Đôi khi chấp nhận giới hạn và dừng lại đúng lúc lại là việc làm có ý nghĩa nhất để ta có thể tiếp tục tiến về phía trước.
Các bài viết khác có thể bạn sẽ quan tâm:





Một cái đầu lặng yên sẽ mở ra nhiều khả năng ha. Nếu Thủy có phương pháp nào mà em hay dùng để bình ổn tâm trí, kéo dài sự tập trung, thì chia sẻ nhé.