
Tôi luôn có ác cảm với việc mặc đồng phục khi đi làm. Phần vì không có hứng thú trải nghiệm lại cảm giác của mười hai năm mài đũng quần trên ghế nhà trường. Phần vì quần áo đồng phục chẳng mấy khi được may cho cẩn thận nên mặc lên cũng chẳng thoải mái gì. Những dịp phải mặc đồng phục, dù chỉ là một ngày cố định trong tuần, tôi cũng cảm thấy phiền phức, khó chịu. Rốt cuộc hiệu quả công việc thì liên quan gì đến quần áo trên người cơ chứ? Tôi luôn giữ suy nghĩ ai cũng phải có quyền được giữ lại bản sắc cá nhân, được là chính mình trong mọi hoàn cảnh, cho tới tận gần đây.
Mấy hôm trước, tôi bắt gặp một tình huống tranh cãi trên mạng xã hội. Ban đầu đó chỉ là một câu chuyện tréo ngoe và hài hước khi một người đi ra ngoài ăn mà bị một người khác “nhầm” là người vô gia cư và quay clip lại làm nội dung trên mạng xã hội. Khi phần lớn bình luận thắc mắc làm thế nào mà một người mặc đồ thương hiệu X lại bị nhầm là người vô gia cư được, thì đâu đó lại có một vài bình luận kiểu “X chả là hàng bình dân.” Thế là tranh cãi nổ ra.
Quả thực thấy một món đồ đắt hay rẻ hoàn toàn là vấn đề cá nhân. Với những người nói “X chả là hàng bình dân”, có lẽ những món đồ ấy không đáng kể về mặt giá trị, nhưng rõ ràng điều đó không đúng với đại đa số mọi người, đặc biệt là người vô gia cư. Lấy mình làm chuẩn và áp đặt cho cả một cộng đồng với thái độ trịch thượng như vậy có vẻ chẳng văn minh cho lắm. Vậy còn định kiến của tôi rằng mặc đồng phục là phiền phức và đánh cắp bản sắc liệu có được tính là văn minh không? “Là chính mình” có lẽ là tốt, nhưng phải “là chính mình” như thế nào cho đúng?
Hành trình tìm hiểu bản thân
Ngày nhỏ tôi không biết “là chính mình” có nghĩa là gì. Như mọi đứa trẻ con khác, tôi chỉ muốn mình thật ngầu thật oách để bọn bạn phải “nể” và người lớn không coi tôi là một đứa nhóc không biết gì nữa. Tuy không biết thế nào là “là chính mình”, nhưng tôi biết muốn thể hiện bản thân thì đầu tiên tôi phải có gì đó để thể hiện đã. Vậy nên hồi cấp một, cấp hai tôi thường cố làm ra vẻ ngang ngạnh, lắm lúc còn hơi phô trương. Nhưng kết quả là, tôi chẳng cảm thấy oai, tôi chỉ thấy không thoải mái. Thế là câu chuyện “thể hiện” đã bị tôi dứt khoát dẹp qua một bên, cũng như rất nhiều điều hoang đường, vớ vẩn khác của một đứa trẻ con. Mãi tới chục năm sau, tôi mới có chút “manh mối” đầu tiên về “là chính mình”.
Hôm ấy đứa bạn thân tôi có một hộp socola viên, nặng 300g, được sếp cho. Sở dĩ tôi nhớ rõ trọng lượng như vậy là vì chỉ trong một lúc buổi chiều hôm đó, hai đứa bọn tôi đã ăn hết sạch hộp kẹo, không chừa lại một viên nào. Vừa ăn hai đứa vừa lảm nhảm, hát hò rồi cười như hai con dở hơi. Đó là lần đầu tiên chúng tôi biết ăn quá nhiều socola cũng có thể bị “high”. Và đó cũng là lần đầu tiên tôi thấy bản thân thoải mái đến thế, thích hát là hát, thích cười là cười, không phải cân nhắc, đắn đo nhiều. Chỉ sau lần “phê” socola ấy, tôi mới dần hiểu ra: “là chính mình” là sự nhất quán trong suy nghĩ và hành động mà không sợ bị phán xét. Hay nói một cách nôm na thì đó cũng là một kiểu tự do.
Nhưng liệu nhất quán trong suy nghĩ và hành động có luôn là đúng? Nếu một người nhất quán trong việc... ích kỷ, tự cao thì sao? Liệu “là chính mình” có thể trở thành lý do để biện minh cho những hành vi thiếu tôn trọng người khác? Đó là lúc tôi nhận ra: “là chính mình” không thể tách rời khỏi việc hiểu biết bản thân và có trách nhiệm với xã hội.
Dũng cảm để trung thực
Ngày trước có một thời gian khi đi làm, tôi luôn nhăm nhăm thể hiện ý kiến cá nhân, không ngại va chạm, thậm chí là tranh cãi nảy lửa ngay khi có mâu thuẫn về quan điểm. Tất cả đều được tôi lấy nóng tính và thẳng thắn ra làm cái cớ. Tất nhiên là công việc cũng xong thôi, nhưng tâm lý mọi người đều không thoải mái, thậm chí là né tránh tôi. Về sau, khoảng thời gian ấy được tôi đặt tên là “khủng hoảng cái đầu nóng”. Gọi là khủng hoảng vì dù tôi đã thắng trong một vài cuộc tranh cãi, nhưng xét về lâu dài thì công việc cũng chẳng được lợi gì, bản thân tôi lại luôn căng thẳng, bức bối. Hình như dù đã bao năm trôi qua, tôi vẫn chẳng khác gì đứa nhóc năm xưa, chỉ muốn “thể hiện” mình cho thật ngầu, thật oách. Tuy nhiên lần này, tôi không thể dẹp vấn đề này qua một bên mà phải tìm cách kiềm chế nó.
Thế nhưng phải sau khoảng thời gian “khủng hoảng” đó khá lâu, tôi mới nhận ra vấn đề của mình là gì. Trong những lần tranh cãi toé lửa đó, không ít lần tôi đã lẫn lộn giữa bảo vệ quan điểm cá nhân với thoả mãn cái tôi; tôi tập trung vào lấn át người khác thay vì nhìn nhận vấn đề thật khách quan để giải quyết nó. Kể từ sự giác ngộ đó, tôi bắt đầu nhìn nhận “dĩ hoà vi quý” theo một cách khác. Đó không phải là sự hèn nhát hay giả tạo mà là biết rằng chẳng có cái tôi của ai là quan trọng hơn hết thảy, và đưa cái tôi vào câu chuyện chẳng giúp cho việc giải quyết vấn đề được nhanh chóng hay dễ dàng hơn.
Tới cuối năm 2024 thì tôi thấy mình thật may mắn vì đã hiểu ra điều ấy không quá muộn. Khi công việc của tôi đổi vai từ bên mua sang bên bán, một số đồng nghiệp cũ lại trở thành khách hàng quan trọng. Đúng là “không ai nắm tay từ tối đến sáng”, tôi thầm thở phào vì trước đây không xích mích với họ.
Vậy nên, muốn là chính mình trước hết cần phải hiểu cho rõ bản thân, biết điểm xấu, điểm tốt của mình để sửa đổi và phát huy. Để làm được điều đó, cái ta cần là sự trung thực khi đối diện với chính mình. Chỉ khi trung thực với chính mình ta mới có thể trung thực với mọi người, từ đó mới có thể “là chính mình” một cách đàng hoàng, tử tế. Xã hội không hề thiếu những tấm gương là người nổi tiếng nguỵ tạo nên hình tượng trong sạch, lành mạnh, nhưng cuối cùng lại bị bóc trần vì những scandal đạo đức, nghiêm trọng tới mức trở thành vi phạm pháp luật. “Là chính mình” không thể là một màn “thể hiện” được dàn dựng công phu.
Ranh giới của tự do
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, hiểu rõ và trung thực với bản thân mới chỉ là một mặt của vấn đề. Ngoài biết mình, ta còn cần biết người và biết tôn trọng các ranh giới vốn có trong xã hội nữa. Quay trở lại với những bình luận hàng bình dân ở phần đầu bài viết, họ thản nhiên đưa ra những phát ngôn tuỳ tiện, thách thức chỉ để thể hiện cái đẳng cấp của bản thân, mà quên mất rằng họ sao có thể đại diện cho số đông để định đoạt một món đồ là bình dân hay không được. Cũng tương tự với những người chọn lối ăn mặc phản cảm ở những nơi tôn nghiêm, họ cũng đặt phong cách và sự thoải mái cá nhân lên trên tất thảy. Họ đang dùng quyền được “là chính mình” để xâm lấn không gian chung, nơi vốn cần sự tôn trọng lẫn nhau.
Có những người phản biện rằng: đó là quyền tự do cá nhân của tôi, sao tôi không được dùng? Đúng là chúng ta đang sống trong một thời đại mà những quy chuẩn, ràng buộc cổ hủ của xã hội cũ lên mỗi cá nhân cần được rũ bỏ triệt để. Nhưng một cộng đồng vẫn cần có những giá trị xưa cũ như đạo đức, thuần phong mỹ tục và ý thức chung để duy trì sự gắn kết. Theo tôi, câu hỏi không phải là dùng hay không dùng quyền tự do cá nhân, mà nên là: quyền tự do ấy, khi được thực hiện, có khiến người khác bị tổn thương không? Nếu có, thì nó có còn đúng là quyền tự do cá nhân, hay đã biến tướng thành lòng ích kỷ và thiển cận?
Để mà lấy ví dụ trong đời thường thì rất dễ. Chẳng nói đâu xa, hai nhà hàng xóm của tôi từng cãi nhau to chỉ vì một cái lò hoá vàng. Nhà thứ nhất thì đặt lò ở hành lang chung, cho rằng đó là không gian họ có quyền sử dụng, hoá vàng là tập tục văn hoá, là quyền tự do tín ngưỡng của họ. Nhưng mỗi lần hoá vàng, tàn tro bay khắp hành lang, chui vào cả nhà bên cạnh. Nhà thứ hai này thấy thế thì khó chịu lắm, nhưng dù phàn nàn nhiều lần thì nhà kia vẫn khăng khăng: “Hành lang là của chung, tôi phải có quyền dùng”. Cứ thế, mùng một, ngày rằm, giỗ chạp là ỏm tỏi hết cả lên. Cho đến một ngày chẳng thấy nhà thứ hai kêu ca gì nữa, ai cũng tưởng họ đã cam chịu. Nhưng chả phải, hoá ra họ đợi đến mờ sáng hôm sau, lúc cả khu nhà còn đang ngủ, mới lẳng lặng, đem cái lò ném thẳng vào xe rác tập kết gần khu nhà. Kết quả là một trận cãi vã to nhất vòng đời cái lò hoá vàng nổ ra, đến mức ông tổ trưởng phải vào hoà giải, còn hai nhà đến tận bây giờ vẫn cạch mặt nhau.
Trường hợp này thì phải phân đúng sai thế nào? Nhà thứ nhất chỉ một mực quan tâm đến tín ngưỡng của mình mà quên mất rằng phải tôn trọng không gian chung. Còn nhà thứ hai lại lựa chọn xử lý vấn đề bằng một cách thô bạo là xâm phạm tới tài sản của người khác. Cả hai đều nghĩ mình đang bảo vệ quyền “là chính mình”, nhưng không ai chịu đặt câu hỏi: Liệu cách “là chính mình” của mình có đang làm tổn hại đến người khác không? Đó là câu hỏi mà tôi tin ít người đặt ra trong thời đại ngày nay. Trên mạng xã hội, nơi mọi hành động đều được khuếch đại, nơi sự chú ý đổi thành tiền bạc, người ta dễ dàng quên đi câu hỏi ấy. Thay vào đó, họ chỉ tập trung vào việc tô vẽ hình tượng “đặc biệt”, “nổi bật”, “khác người” của mình, bất kể hình tượng đó có thật hay không.
Giữa thật và giả
Tôi có thể lấy ví dụ cho lối sống “ảo” ấy bằng một vụ “bóc phốt” mà tôi từng thấy trên Threads cách đây chưa lâu. Nhân vật chính, cũng là người bị bóc phốt, là một nam thanh niên còn rất trẻ, chắc chỉ khoảng 20 tuổi. Cậu này thường lên Threads khoe khoang thu nhập “tuy khiêm tốn nhưng độc lập tự chủ” chỉ có hàng trăm triệu một tháng của mình. Chuyện sẽ chỉ dừng ở đoạn thiên hạ bán tín bán nghi nếu không có một người vô tình bắt gặp cậu ta để lại bình luận, xin mô tả công việc của một đầu việc freelance thù lao vài trăm ngàn đồng. Anh bạn trẻ đó đã trở thành trò cười cho thiên hạ một thời gian khá lâu. Không hiểu sau khi sự việc lắng xuống, cậu ta đã học được bài học chưa hay vẫn tiếp tục “cưa bom bán thuốc nổ” như vậy.
Câu chuyện khoác lác của cậu thanh niên ấy đã vạch trần một bộ phận trong xã hội lấy số lượt tương tác và mức độ đánh bóng tên tuổi làm thước đo thành đạt. Áp lực phải tỏ ra thành công đã biến bao nhiêu người thành kẻ nói dối, để rồi khi nói dối người đời quá lâu, họ lại quay sang huyễn hoặc chính mình. Hậu quả là gì? Là một xã hội được tạo nên bằng hàng loạt những câu chuyện truyền cảm hứng y hệt nhau, hay nói cách khác, là một xã hội không còn sự thật. Những gì còn lại chỉ là các xu hướng và sự bóng bẩy, hào nhoáng nhằm làm lợi cho một nhóm người.
Viễn cảnh này làm tôi nhớ đến thế giới trong “451 Độ F” với sự bùng nổ của giải trí truyền hình được cá nhân hoá đến mức tối đa, còn tri thức đích thực từ sách vở thì bị đàn áp, xoá sổ. Mọi thứ rực rỡ và sôi động, nhưng bên dưới sự náo nhiệt ấy là một thế giới đã chết từ lâu. Thành phố trong câu chuyện điên loạn và khó coi đến mức quả bom chiến tranh san phẳng nó lại giống một cuộc khải huyền cho sự tồn tại vô tri giác của con người, hơn là một thảm hoạ thuần tuý.
Lại nói về thế giới của chúng ta, khi xã hội ngày càng ồn ào với những hình tượng giả tạo, “là chính mình” có lẽ không còn là chuyện thể hiện ra bên ngoài, mà là một cuộc hành trình quay về bên trong, để học cách trung thực với chính mình, dũng cảm đối diện với những điểm yếu, và tôn trọng ranh giới của người khác. “Là chính mình” cũng không chỉ là những gì chúng ta có thể làm, mà còn là những gì chúng ta lựa chọn không làm. Và quyền lựa chọn đó mới là sự tự do đích thực.
Các bài viết bạn có thể quan tâm:




Hay quá b ơi