Dàn hoa giấy um tùm ở khu nhà tôi là nơi trú ngụ yêu thích của đám chim chóc. Ngoại trừ lũ Sẻ lắm mồm chạch chạch cả ngày, thỉnh thoảng dàn hoa còn có một vị khách đặc biệt: chim Tìm Vịt hay chim Vịt.
Không như chim Sẻ mùa nào cũng ở đây, dường như một năm chim Tìm Vịt chỉ ghé nơi này đôi ba lần, mỗi lần chỉ vài ngày ngắn ngủi. Thường vào những lúc tôi không ngờ đến nhất, tiếng hót lảnh lót mà khắc khoải ấy sẽ đột nhiên vang lên, phá tan bầu không khí tĩnh lặng lúc ban chiều.
Từ lúc chim Vịt tới đây, tiếng hót của nó lúc nào cũng đơn độc. Từng tiếng, từng tiếng cứ thế rơi thẳng vào thinh không, chẳng bao giờ có hồi đáp. Chẳng biết là nó đang thê thiết gọi ai? Rồi trong cả kiếp sống nhỏ bé ấy, có khi nào nó tìm được điều nó muốn tìm không?
Tôi biết về loài chim này là nhờ mẹ, còn mẹ lại biết được từ ông ngoại tôi. Mỗi khi nghe chim Vịt kêu, tôi lại nghĩ: có phải mẹ đang nhớ về ông bà ngoại hay không?
Người miền Tây có một câu ca dao thế này:
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”
Mẹ tôi ly hương từ nhỏ, như lời bà ngoại nói là “rời nhà khi mặt còn lông tơ”, để giúp ông bà gồng gánh gánh nặng mưu sinh, và cũng để bản thân thoát cảnh cơ hàn, đói kém. Cả một đời làm vô số công việc, cho đến giờ cũng coi như mẹ đã được toại nguyện. Nhưng sự toại nguyện ấy đã phải đánh đổi bằng một cái giá lớn, là những ngây thơ thuở thiếu thời và niềm hạnh phúc được sớm tối gần gũi cha mẹ.
Có lẽ, ở một thời điểm nào đó, nỗi nhớ song thân không chỉ còn là nỗi nhớ nữa, mà đã trở thành sự nuối tiếc những điều mà một đứa trẻ vốn nên được trải qua với cha mẹ và anh chị em ruột thịt. Niềm hạnh phúc ngọt ngào ấy của mẹ tôi quá ngắn ngủi. Thế nên giờ đây, khi phần lớn mọi người trong gia đình mẹ chỉ còn xuất hiện trong những câu chuyện kể đi kể lại, khi mẹ chỉ có thể tìm được niềm vui gia đình quây quần từ những kỷ niệm, tôi có thể cảm nhận nỗi tiếc nhớ ấy ngày càng sâu sắc và day dứt hơn.
Chẳng rõ từ khi nào, tôi luôn giữ trong tim một ước mơ là được quay trở về với quê hương bản quán của mẹ, được sống và chết đi trên mảnh đất đã sinh ra mẹ nhưng không thể chứng kiến mẹ lớn lên, trưởng thành và già đi, cũng chẳng hề hay biết về những sóng to gió lớn mà mẹ đã một mình vượt qua. Bản thân tôi cũng không hiểu tại sao mình lại tha thiết với ước mơ ấy đến thế. Là vì những câu chuyện mẹ kể đã vun đắp cho tôi một tình yêu với những điều tôi còn chưa tự mình trải qua? Là tôi sớm đã nhận ra nhịp thở của mình chỉ nhẹ nhõm khi ở giữa núi sông, trời đất, cây cối này. Hay là cả hai? Tôi chỉ biết tôi muốn trở về để thực sự sống, được làm những việc mẹ từng làm, tới những nơi mẹ từng tới, lắng nghe, ngắm nhìn những thứ mẹ từng thấy. Có lẽ ước mơ này là cách sẻ chia và kết nối của riêng mẹ con tôi.
Nhưng có đôi khi tôi lại nghĩ: nếu một ngày ước mơ ấy thành hiện thực, nếu một ngày tôi cũng rời xa nơi mình sinh ra và lớn lên như mẹ năm xưa, có khi nào tôi cũng sẽ nhung nhớ nó như mẹ đã từng không? Vào một buổi chiều tà, khi tiếng chim Vịt vang lên nơi góc vườn, liệu tôi có nhớ tới căn hộ tập thể nhỏ xíu này? Có nhớ tới dàn hoa giấy và khoảng trời hẹp? Hay nhớ tới đứa trẻ ngày nào, khi thì tha thẩn đọc truyện, khi thì ngồi nghệt hóng chim tới, đứa trẻ cứ thế sống, chơi, học, sống, rồi lớn lên? Có lẽ đến một ngày tôi, cũng như mẹ, sẽ biết trong lòng mình hằng nhớ tới điểu gì.
Tôi chưa bao giờ biết được tiếng chim Vịt nơi dàn hoa giấy ấy là của một hay nhiều chú chim, cũng chẳng ai biết chim Vịt từ đâu đến và những lúc không ở dàn hoa, nó sẽ bay về đâu. Đâu mới là nhà của nó? Những câu hỏi ấy sẽ chẳng bao giờ có câu trả lời, nhưng trong vô thức, mỗi năm mẹ con tôi đều luôn mong chờ tiếng chim Vịt kêu, như mong chờ sự trở về của những suy tưởng và hoài niệm dù chỉ trong chốc lát.
Các bài viết bạn có thể quan tâm:





